Three hundred and elevent moral precepts for nuns

I. Bát Đọa – Parajikas (skt)

Ba La Di—Bát Cực Trọng Cảm Đọa Tội. Bát Đọa có nghĩa là tám tội Ba La Di thoái đọa pháp hải và bị khai trừ khỏi Tăng Chúng. Một khi bị trục xuất sẽ không bao giờ được phép trở lại Giáo Đoàn (bất cứ hệ phái nào trong Phật Giáo). Những vị nầy sẽ vĩnh viễn bị đọa lạc. Eight parajikas mean eight causes of falling from grace and final excommunication or expulsion of a monk or nun. Once they are expelled, they are never allowed to join the Order again. They are defeated forever.

Theo cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa—According to both Mahayana and Hinayana:

1) Sát: Giết hại chúng sanh—Vadha-himsa (skt)—Killing—See Sát Sanh.

2) Đạo: Trộm Cắp—Adattadana (skt)—Stealing—See Trộm Cắp.

3) Dâm Dục: Phạm tội thông dâm—Abrahmacarya (skt)—Adultery—Sexual immorality or bestiality—See Dâm.

4) Vọng: Vọng ngữ hay nói dối—Uttaramanusyadharma-pralapa (skt)—False speaking—Falsity—See Nói Dối, and Nói Lời Đâm Thọc.

5) Cấm một Ni cô rờ rẫm, chà xát hay xoa bóp người nam từ xương cổ trở xuống tới đầu gối: The action like enjoying rubbing, touching and pressing against a male person below the collar-bone and above the circle of the knees with some desire by a nun is treated as a serious offence which makes her defeated in the spiritual life.

6) Cấm một Ni cô nắm tay nắm áo người nam, đứng gần, nói chuyện, hay đề nghị gặp gỡ hay hẹn hò với người nam ở nơi kín đáo: It is a serious offence named Parajika for a nun who with some desire consents to hold the hand of a male person, his outer cloak, standing near him, holding a talk with him or suggesting to go a rendez-vous, consent to meet him or enter into a covered place and dispose the body for such purpose.

7) Cấm một Ni cô dấu tội của những Ni cô khác: A nun should not conceal a knowingly Parajka offence of some other nuns entails her to be defeated in the monastic life.

8) Cấm đi theo một vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni đã bị trục xuất khỏi Giáo Đoàn: A nun who follows a Bhikkhu or a Bhikkhuni who have been suspended by the Sangha even after thrice admonitions by other nuns is an act of Parajika for the nun.

II. Thập Thất Giới Tăng Tàn – Sanghadisesa (skt)

Thứ 1 giới làm nghề mai mối.

– Nếu tỷ kheo ni làm mai mối, đem lời người nam nói với người nữ, đem lời người nữ nói với người nam, để làm cho họ lấy nhau hay tư thông với nhau, thì, dầu chỉ chốc lát, tỷ kheo ni ấy cũng phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm (16).

Thứ 2 giới vu khống phỉ báng.

– Nếu tỷ kheo ni vì tức giận, không hoan hỷ, nên, một cách vô căn cứ, phỉ báng vị khác phạm tội ba la di, phỉ báng với ý thức muốn phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; rồi trong thì gian khác, được hỏi hay không được hỏi, tỷ kheo ni ấy biết đó là sự phỉ báng vô căn cứ, và nói rằng vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 3 giới xuyên tạc phỉ báng.

– Nếu tỷ kheo ni vì tức giận, không hoan hỷ, nên lấy một cánh khía của việc khác, đối với vị tỷ kheo ni không phạm ba la di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng rằng phạm tội ba la di, với ý thức phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; đến thì gian khác, được hỏi hay không được hỏi, tỷ kheo ni ấy biết mình lấy một cạnh khía của việc khác, tự nói vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 4 giới đến quan thưa kiện .

– Nếu tỷ kheo ni đến quan thưa kiện cư sĩ hay con cư sĩ, tôi tớ hay người làm thuê, thưa kiện một ngày, một đêm, một khoảnh khắc, một khảy móng tay, một giây phút, thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 5 giới biết mà độ giặc .

– Nếu tỷ kheo ni biết trước là nữ tặc, tội đáng chết, ai cũng biết, vậy mà không hỏi vua hay đại thần, không hỏi thành phần xã hội (17) của nữ tặc, độ cho xuất gia và thọ cụ túc giới liền, thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 6 giới giải cho bị cử .

– Nếu tỷ kheo ni biết tỷ kheo ni khác bị chư tăng cử tội đúng giáo pháp, đúng giới luật, đúng Phật huấn dụ, mà không phục tùng, không sám hối, và chư tăng chưa làm kiết ma sống chung cho;vậy mà vì tình riêng, không hỏi chư tăng, chư tăng cũng không chỉ thị, vẫn ra khỏi cương giới làm kiết ma giải tội cho tỷ kheo ni kia, thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 7 giới đi riêng ngủ lại .

– Nếu tỷ kheo ni một mình lội nước, một mình vào làng, một mình ngủ lãi, một mình đi sau, thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 8 giới nhiễm tâm nhận ăn .

– Nếu tỷ kheo ni tâm ô nhiễm, biết người nam cũng tâm ô nhiễm, vậy mà từ ngưới nam ấy nhận những thứ có thể ăn được, những thức ăn, những đồ vật khác, thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 9 giới khuyên nhận nhiễm thực (18) .

– Nếu tỷ kheo ni khuyên tỷ kheo ni khác, bằng cách nói như vầy, đại tỷ, người nam kia có nhiễm tâm hay không nhiễm tâm thì hại gì đại tỷ. Đại tỷ bản thân không có nhiễm tâm thì nếu được thức ăn nơi người nam kia, cứ đúng thì gian thích hợp mà nhận lấy. Khuyên như vậy thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 10 giới phá tăng hòa hợp .

– Nếu tỷ kheo ni muốn phá hoại tăng hòa hợp (19) nên hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Các vị tỷ kheo ni nên can gián tỷ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng phá hoại tăng hòa hợp, đừng hành đông mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, đừng chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Đại tỷ hãy cùng tăng hòa hợp; cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy (20), như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Tỷ kheo ni ấy khi được các tỷ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các tỷ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để tỷ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ đừng phạm.

Thứ 11 giới hỗ trợ phá tăng (21) .

– Nếu tỷ kheo ni ấy có các tỷ kheo ni khác làm phe cánh, một người, hai người, ba người, cho đến vô số người; những tỷ kheo ni phe cánh này nói với các tỷ kheo ni, rằng các đại tỷ, xin đừng can gián tỷ kheo ni ấy, tỷ kheo ni ấy là tỷ kheo ni nói đúng giáo pháp, tỷ kheo ni nói đúng giới luật, tỷ kheo ni ấy nói chúng tôi ưa thích, tỷ kheo ni ấy nói chúng tôi chấp nhận. Các tỷ kheo ni nói với các tỷ kheo ni phe cánh, rằng các đại tỷ, đừng nói như vậy, rằng tỷ kheo ni ấy là tỷ kheo ni nói đúng giáo pháp, tỷ kheo ni nói đúng giới luật; tỷ kheo ni ấy nói chúng tôi ưa thích, tỷ kheo ni ấy nói chúng tôi chấp nhận. Bởi vì tỷ kheo ni ấy nói không phải nói đúng giáo pháp, không phải nói đúng giới luật. Các đại tỷ, đừng có ý muốn phá hoại tăng hòa hợp; các đại tỷ, hãy thích thú tăng hòa hợp. Các đại tỷ hãy cúng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Những tỷ kheo ni ấy khi được các tỷ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị tỷ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những tỷ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 12 giới hoen ố tín đồ (22).

– Nếu tỷ kheo ni sống trong thành thị hay xóm làng mà làm hoen ố tín đồ và những việc xấu (23), làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Các vị tỷ kheo ni can gián tỷ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe; đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu thì nay hãy đi xa khỏi xóm làng này, đừng nên ở đây nữa. Tỷ kheo ni ấy nói với các tỷ kheo ni, rằng chư đại tỷ, các tỷ kheo ni có tham, có sân, có si, có sợ; có cái việc những tỷ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Các vị tỷ kheo ni can rằng, đại tỷ, đừng nói như vậy, rằng các vị tỷ kheo ni có tham, có sân, có si, có sợ, có cái việc những tỷ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Bởi vì các vị tỷ kheo ni không tham, không sân, không si, không sợ, không cái việc những tỷ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Tỷ kheo ni ấy khi được các tỷ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị tỷ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những tỷ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 13 giới ngoan cố chống cự.

– Nếu tỷ kheo ni tính tình ngoan cố, không nghe ai hết; trong giới luật, các tỷ kheo ni đã can gián đúng phép mà bản thân tỷ kheo ni ấy không chịu sự can gián ấy, bằng cách nói rằng, chư đại tỷ, đừng hướng về tôi mà nói tôi tốt hay tôi xấu, tôi cũng không hướng về chư đại tỷ mà nói các vị tốt hay các vị xấu. Chư đại tỷ hãy thôi đi, đừng luôn luôn can gián tôi. Các vị tỷ kheo ni can gián tỷ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng nên chính mình không chịu ai can gián. Đại tỷ nên chính mình chịu can gián. Đại tỷ hãy can gián chư tỷ kheo ni một cách đúng phép, chư tỷ kheo ni cũng can gián đại tỷ một cách đúng phép. Làm như vậy thì đệ tử của Phật được tăng ích nhờ can gián cho nhau, chỉ dạy cho nhau, sám hối với nhau. Tỷ kheo ni ấy khi được các tỷ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị tỷ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những tỷ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 14 giới thân nhau giấu lỗi.

– Nếu tỷ kheo ni sống gần gũi với nhau mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn mà lần lượt che giấu tội lỗi cho nhau. Các tỷ kheo ni khác nên can gián những tỷ kheo ni ấy, rằng các đại tỷ, đừng gần gũi nhau mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn, rồi che giấu tội lỗi cho nhau. Các vị nếu không gần gũi với nhau như vậy, thì trong Phật pháp các vị sẽ được đời sống tăng ích và yên vui. Những tỷ kheo ni ấy khi được các tỷ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị tỷ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những tỷ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 15 giới bảo đừng ở riêng.

– Nếu tỷ kheo ni khi bị tỷ kheo ni tăng quở trách can gián, tỷ kheo ni khác chỉ bày như vầy, đại tỷ đừng chịu sống riêng, hãy cứ sống chung. Tôi thấy có các tỷ kheo ni không chịu sống riêng, sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn và che giấu tội lỗi cho nhau. Chư tỷ kheo ni tăng vì tức giận nên bảo đại tỷ sống riêng mà thôi. Các tỷ kheo ni nên can gián tỷ kheo ni khác ấy, rằng đại tỷ chớ bảo tỷ kheo ni ấy đừng chịu sống riêng, chớ nói tôi thấy có các vị tỷ kheo ni sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn và che giấu tội lỗi cho nhau; chư tỷ kheo ni vì tức giận nên bảo đại tỷ sống riêng mà thôi. Nay đúng ra chỉ có 2 tỷ kheo ni là các vị sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn mà che giấu tội lỗi cho nhau, chứ không còn có ai khác nữa. Nếu các vị sống riêng thì trong Phật pháp các vị sẽ có đời sống tăng ích và yên vui. Tỷ kheo ni khác ấy khi được các tỷ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị tỷ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những tỷ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 16 giới giận bỏ Tam bảo.

– Nếu tỷ kheo ni vì một việc nhỏ nhặt, tức giận không vui, liền nói rằng tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng; thế gian này không phải chỉ có sa môn Thích tử, mà còn có sa môn bà la môn khác cũng tu phạn hạnh, tôi cũng có thể tu phạn hạnh với họ. Các tỷ kheo ni hãy can gián tỷ kheo ni ấy, rằng đại tỷ đừng vội vàng vì một việc nhỏ nhặt, tức giận không vui mà nói liền rằng tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, thế gian này không phải chỉ có sa môn Thích tử, mà còn có sa môn bà la môn khác cũng tu phạn hạnh, tôi cũng có thể tu phạn hạnh với họ. Tỷ kheo ni ấy khi được các tỷ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị tỷ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những tỷ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Thứ 17 giới ưa cãi không nhớ.

– Nếu tỷ kheo ni ưa tranh cãi vì không nhớ sự việc tranh cãi, lại tức giận mà nói rằng chư tăng có tham, có sân, có si, có sợ. Các tỷ kheo ni phải can tỷ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng ưa tranh cãi vì không khéo nhớ sự việc tranh cãi, lại tức giận mà nói rằng chư tăng có tham, có sân, có si, có sợ. Thật ra chư tăng không tham, không sân, không si, không sợ, mà đại tỷ tự mình có tham, có sân, có si, có sợ. Tỷ kheo ni ấy khi được các tỷ kheo ni can can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị tỷ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những tỷ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì tỷ kheo ni ấy phạm tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.

Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 17 giới tăng già bà thi sa mà 9 giới trước thì mới phạm là thành tội, 8 giới sau thì sau 3 lần can gián mới thành tội. Nếu tỷ kheo ni phạm mỗi một giới, thì chư tăng 2 bộ phải buộc tỷ kheo ni ấy nửa tháng thi hành phép hoan hỷ (24). Thi hành phép hoan hỷ rồi chư tăng giải tội cho. Phải giữa chư tăng 40 vị của 2 bộ mà giải tội cho tỷ kheo ni ấy; nếu thiếu 1 vị, không đủ 40 vị, thì có giải tội đi nữa, tội của tỷ kheo ni ấy cũng không giải được , mà chư tăng tỷ kheo và tỷ kheo ni (25) cũng đáng khiển trách. Đó là trường hợp (26) này. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 17 giới tăng già bà thi sa ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 17 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.

III. Tam Thập Giới Xả Đọa Tỳ Kheo Ni – Nissaggiya-pacittiya (skt)

Đây là ba mươi giới mà người phạm tội phải giải thích trước giáo đoàn và phải bị phạt cấm phòng sáu bữa—The Nissaggiya-pacittiya has two components: the word Nissaggiya means giving up; and the word Pacittiya means reconciliation or expiation. A man by his true nature is subject to lapses; therefore, even after joining the monastic life, the monk sometimes, makes transgression of the monastic rules, i.e., accepting things of daily use in excess of the number allowed by the Buddha is not proper for monks and nuns. Thus, the Buddha set forth rules that help making monks and nuns free from transgressions. These are thirty offences which require explanation and punishment for the offenders is six-day room retention.

1) Cấm cất giữ dư chăn áo quá mười ngày: A nun should not wear or keep an extra robe for more than ten days.

2) Cấm bỏ chăn áo ở một nơi khác, trong một đêm: a nun should not leave robes and sleeping material in another place, even for one night (nuns should not be away, separated from the three robes, even for one night).

3) Khi áo rách mất, có người cúng dường vải, dù không đúng thời (trai tăng tự tứ) vị Ni vẫn có thể nhận. Khi nhận là phải may cho nhanh; tuy nhiên, nếu không đủ vải may, có thể để dành chờ có thêm, nhưng cấm để dành vải quá một tháng: When robes worn out, and the robe-material is accrued to the nun, even not at the right time, it may be accepted by that nun if she so wish. Having accepted it, it should be made up quickly. But if it is not sufficient for her, that robe-material may be laid aside by that nun for a month at most.

4) Cấm hỏi xin áo với nam nữ thí chủ, trừ khi thắt ngặt (khi áo bị mất hay bị hư hại): A nun should not ask a man or woman householder for a robe, except at the right time (robe is stolen or destroyed).

5) Cấm nhận nhiều chăn áo quá bộ, trừ khi thắc ngặc: a nun should not accept more than an inner and upper robes (if a nun is offered robe-material for many robes, then at most she should accept enough for an inner and an upper robe. If she accepts more than that there is an offence of expiation involving forfeiture).

6) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có một thí chủ định sắm cho áo: When there is a householder plans to offer robe-material, or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes.

7) Cấm tự ý muốn kiểu cắt may, khi có nhiều thí chủ định sắm cho: When there are two or more householders plan to offer robe-material or robe-fund, a nun should not design the robe as he wishes.

8) Cấm nhận tiền để may áo, và hối thúc Giáo Hội may liền: A nun should not obtain robe-fund and urge the Order to make the robe immediately.

9) Cấm nhận tiền bạc vàng, gởi hoặc bảo kẻ khác nhận thế: A nun should not take gold and silver, nor should she ask another person to take for her.

10) Cấm buôn bán đồ quý báu: A nun should not engage in various transactions in which gold and silver is used.

11) Cấm buôn bán bất luận vật gì: A nun should not engage in any kinds of bartering.

12) Cấm kiếm bát mới tốt, mặc dầu đúng năm mà cái cũ vẫn còn xài được: A nun should not get another new bowl in exchange for the old bowl, even though the old bowl is very old, but is still usable (If a nun should get another new bowl in exchange for a bowl mended in less than five places, there is an offence of expiation involving forfeiture. That bowl is to be forfeited by that nun to the company of nuns, and whatever the last bowl belonging to that company of nuns, that should be given to this nun with the words: “Nun, this is a bowl for you; it should be kept until it breaks.” That is the proper course in this case).

13) Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ dệt áo cho mình khi có người cúng: A nun should not ask a man or a woman householder who is not a relation to weave her robe (saying this robe-matrial is being especially woven for me, please make it long and wide, and make it evenly woven, well woven and well scraped, etc).

14) Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình: A nun should not ask for yarn, or should not have robe-material woven by weavers.

15) Cấm giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another monk and then take it back because she is angry or displeased of that nun.

16) Cấm để dành thuốc, đường, dầu, quá bảy ngày, trừ khi đau bệnh mà có người cúng dường: A nun should not store medicine, sugar, fresh butter, oil, honey, etc. for over seven days, except when she is ill.

17) Cấm đã lãnh áo trước kỳ, mà khi đến lệ lại còn hỏi nữa: A nun should not obtain the robe before the robe-season, lay it aside, and ask again during the robe-season.

18) Cấm lén lấy một món đồ gì của Giáo Hội: A nun should not take any things that belong to the Order.

19) Cấm mua sắm đồ cho một người đàn ông: A nun should not do any shopping for a man.

20) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ người ta cúng cho Giáo Hội: a nun should not take away any thing that is offered to the Order.

21) Cấm dùng làm của riêng mình món đồ mà một cô khác trao ra để giao cho Giáo Hội: A nun should not take away anything that another nun offers to the Order.

22) Cấm dùng đồ của thí chủ cho về việc khác: A nun should not use the donations from lay Buddhists for personal purposes.

23) Cấm nhơn danh Giáo Hội mà sắm đồ riêng cho mình: A nun should not gain any personal gains on behalf of the Order.

24) Cấm có đến hai cái bát để thay đổi: A nun should not keep an extra bowl.

25) Cấm chứa nhiều đồ tốt đẹp: A nun should not store beautiful things, such as art crafts, pictures, etc.

26) Cấm hứa cho một cô khác vải bó rịt trong cơn đau mà không cho: A nun should not brak her promise to give cloth for bandage to another nun.

27) Cấm đổi lấy áo của thí chủ cho, chớ không lấy áo của Giáo Hội phát (vì áo của thí chủ tốt hơn): A nun should not exchange the robe which is given by the Order for another one from lay Buddhists.

28) Cấm bất bình, giận hờn đòi lại áo khi đã cho người rồi: A nun should not give a robe to another nun and then take it back because he is angry or displeased of that nun.

29) Cấm dùng may áo mùa đông đến bốn xấp vải: A nun should not use more than four batches of cloth for heavy (winter) clothes. It is advisable for a nun to bargain for a heavy cloth for four bronzes. If she bargains one worth more than that, she commits the offense of expiation.

30) Cấm dùng may áo mùa hè trên hai xấp rưỡi vải: A nun should not use more than two and a half batches for light (summer) clothes. Bargaining for light clothes should be made for at most two and half bronzes. If she bargains a light cloth worth more than that, she commits an offense of expiation involving forteature.

IV. Giới Đọa – Pacittiya

166 Giới Đọa – One hundred sixty-six rules for Bhiksunis. Theo Luật Tạng, Pacittiya là 166 giới Ba Dật Đề dành cho Ni chúng, nếu phạm một trong những tội nầy mà chí thành phát lồ sám hối trước Tăng Ni chúng, thì tội được tiêu khiên. Nếu không chí thành phát lồ sám hối, chẳng những sẽ trở ngại cho việc khởi sanh thiện pháp, mà sẽ còn bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—According to the Book of Rules (Vinaya Pitaka), one hundred sixty-six Pacittiya offences which require confession and repentance. If a nun committed any of them, makes a confession of it before the Sangha (Order of monks and nuns) with clear heart, she will become free from the offence. If she doesn’t, the offence itself will not only obstruct her development of wholesome acts, but it will also cause her rebirth in lower realms, i.e., hell, hungry ghosts, or animal.

1) Cấm ăn ngũ tân như tỏi, hành, hẹ, nén, kiêu: A nun should not eat the five forbidden pungent roots, i.e., garlic, onion, leeks, etc.

2) Cấm bất tuân chẳng cạo chơn mày: A nun should not disobey the law by not shaving the eyebrows.

3) Cấm vỗ tay: In slapping with the palms of the hands, there is an offence of expiation.

4) Cấm dồi phấn: In application of lac, there is an offence of expiation.

5) Cấm dùng quá hai lóng tay nước để rữa những chỗ kín trong thân: If a nun is taking an ablution with water (washing the private parts in the body), she may take at most a measure of two finger-joints. For whoever exceeds this, there is an offence of expiation.

6) Cấm một Ni một Sư uống nước chung và quạt cho nhau: A nun should not stand with drinking water or with a fan close to a monk while he is eating or drinking.

7) Cấm nướng xay hạt tươi hay bảo người nướng xay hạt tươi: Whatever nun, having asked for raw grain or having had it asked for, or having roasted it or having caused it to be roasted, or having pounded it or having caused it to be cooked, should eat it, there is an offence of expiation.

8) Cấm quăng ra ngoài rào, đồ đại, tiểu tiện khi đêm: A nun should not throw out the excriment or urine or rubbish or remains of food over a wall or a fence.

9) Cấm đại, tiểu tiện làm dơ cây cối, hay quăng đồ đại tiểu tiện hay đồ ăn thừa lên mùa màng: A nun should not go to stool or urinate to cause pollution in the area of vegetables, plants or trees. A nun should not throw out or should not cause to throw out excrement or urine or rubbish or the remains of food on to the crops.

10) Cấm xem ca múa hát xướng: A nun should not go to see dancing or singing or music.

11) Cấm nói chuyện với đàn ông chỗ vắng vẻ: A nun should not speak with a man in a secluded place (it is not proper for a nun to stand with a man or talk to him alone in a secluded place, i.e., in the dark of the night when there is no light). In doing so, she commits an offence which requires expiation.

12) Cấm gặp và nói chuyện với đàn ông chỗ chán chường: A nun should not meet and talk with a man in a private place.

13) Cấm cùng đứng hay cùng nói chuyện với người nam ngoài đường: A nun should not stand together with a man, nor should she talk with a man in an open place.

14) Cấm cùng đứng hay cùng nói chuyện với người nam trong xe, nơi ngỏ cụt, góc đường, hay nói rỉ tay với người nam: A nun should not stand together with a man, nor should she talk with him on a carriage road or in a cul-de-sac or at cross-roads, nor should she whisper in his ear.

15) Cấm đi vào nhà cư gia trước giờ ăn, ngồi xuống, rồi ra đi thình lình không cho chủ nhà hay: A nun should not enter lay people’s houses before a meal, sit down and leave the house without asking the owner’s permision.

16) Cấm vào nhà cư gia sau bữa ăn mà chủ nhà không hay biết rồi ngồi nằm nơi đó: A nun should not enter the house of a lay person after a meal, and sit or lie down at ease without informing the householder or asking for the householder’s permision.

17) Cấm vào nhà cư gia mà chủ nhà chẳng hay biết rồi tự tiện ở lại đêm nơi đó: A nun should not enter the house of a lay person at the wrong time (from sunset to sunrise) without informing the owner, then stay overnight without asking for permision of the owner.

18) Cấm một vị Ni vì hiểu lầm mà làm cho người nầy khinh dễ người kia: A nun, because of a misapprehension, because of a misunderstanding, should not make someone look down upon another.

19) Cấm một vị Ni nguyền rủa chính mình hay người khác: A nun should not curse herself or another with hell.

20) Cấm khóc lóc hay đấm ngực. Nếu đấm ngực mà không khóc, hay khóc mà không đấm ngực cũng vẫn phạm tội: A nun should not weep or strike herself again and again. If she strikes but does not weep, there is an offence of wrong-doing. If she weeps, but does not strike, there is an offence of wrong-doing.

21) Cấm tắm dưới nước mà chẳng có choàng tắm: A nun should not bathe naked. It is not advisable for a nun to take a bath without clothes or having no dress at all. If she does so, she commits an offence of expiation.

22) Cấm dùng choàng tắm rộng quá thước tất: A nun should not use a bathing cloth beyond the measure prescribed for the Nun. When a bathing cloth is being made for a nun, it must be made to a proper measure. This is the proper meausre: in length four spans, in width two spans. For her who exceeds this measure, should she make or arrange to make a bathing cloth beyond the measure prescribed for the Nun, there is an offence of expiation (The Book Of The Discipline, I.B. Horner, 1997).

23) Cấm may một cái áo để quá năm ngày: A nun should neither sew or make effort to have the robe sewn beyond the limit of five days. Whatever nun, having unsewn or having made another unsewn a nun’s robe, if she is not afterwards prevented should neither sew it nor should make an effort to get it sewn, except on the fourth and fifth days, there is an offence of expiation.

24) Cấm đi ra ngoài với áo khoát quá năm ngày: Whatever nun should miss not going about in an outer cloak for five days, there is an offence of expiation.

25) Cấm mặc đồ của một cô khác mà không hỏi trước: A nun should not wear a robe of someone else without permision (a nun should not wear a robe that should be handed back).

26) Cấm có ý cản trở sự phát áo của Giáo Hội: A nun should not put an obstacle in the way of a group’s receiving robe or in legal distribution of robe material in the Sangha.

27) Cấm nhơn danh Giáo Hội, phát áo và vải rồi để dành lại một ít cho mình: A nun should not hold back a legally valid division of robe-material.

28) Cấm đưa đồ may áo cho bất cứ ai mà không có phép của Giáo Hội: A nun should not give recluses’ robe-material to anyone without permission from the Order, i.e., a householder or to a wanderer or to a female wanderer.

29) A nun, when an expectation of robe-material is not sure, should not let the robe-season pass.

30) Cấm nhơn danh Giáo Hội phát vải may áo mà để lại một ít cho mình: A nun should not hold back a legally valid removal of the kathina (privileges).

31) Cấm hai cô nằm chung, trừ khi đau yếu: Two nuns should not share one couch, except when they are ill. If not, they commit the offence of expiation.

32) Cấm hai cô cùng đắp chung: Two nuns should not share one covering-cloth.

33) Cấm làm cho vị Ni khác khó chịu: A nun should not intentionally cause discomfort to another nun.

34) Cấm chẳng săn sóc người ở gần mình trong cơn đau bệnh: A nun who should neither attend to an ailing woman who lives with her, nor should she make an effort to get her attended to, commits the offence of expiation.

35) Cấm trong mùa mưa đuổi một cô đi chỗ khác, sau khi mình đã tìm xong chỗ ngụ: Whaterver nun, having given quarters to a nun, should, angry, displeased, throw her out or have her thrown out, commits the offence of expiation.

36) Cấm thân cận và ở chung nhà với đàn ông: A nun should not keep company with a man (whatever nun should keep company with a householder or with the householder’s son, that nun should be spoken to thus by the nuns: “Do not, lady, keep company with a householder and with a householder’s son. Let the lady desist, the Order praises such detachment in a sister.” But if that nun, being spoken to thus by the nuns, should persist as before, that nun should be admonished by the nuns up to the third time for giving up that course. If she should give up, while being admonished up to the third time, that is good. If she should not give up, there is an offence of expiation).

37) Cấm đi quanh vùng nguy hiểm: A nun should not go on alms-tour within a dangerous region. Her disobeying the rule is the committing of an offence of expiation.

38) Cấm đi quanh xứ lộn xộn: A nun should not go on alms-tour within a chaotic region.

39) Cấm đi lúc mùa mưa, vì có thể dẫm lên và giết hại sâu bọ: A nun should not walk on almstour duirng the rains, for she may tread on worms and other insects.

40) Chẳng nên đi khất thực xa nơi an cư kiết hạ, dù chỉ là năm sáu do tuần (see Do Tuần): A nun, during the rains, should not set out on almstour, even for a distance of five or six yojanas.

41) Cấm đi xem đền đài cung điện của vua: A nun should not go to see a king’s palace, including the king’s pleasure house, a picture gallery, a park, or a pleasure grove, or a lotus pond (it is said that if she goes to any of the above mentioned places, she commits the offence of expiation).

42) Cấm ngồi trên giường ván của cư gia: A nun should not make use of a sofa or a divan at the house of a lay person.

43) Cấm tự mình kéo chỉ quay tơ: A nun should not spin yarn.

44) Cấm ra tay làm việc cho người cư gia: A nun should not do household work for a lay person. Leading the holy life, a nun should not do the household work. If she does so, she commits an offence of expiation.

45) Cấm trước hứa giải quyết ổn thỏa những vấn đề liên quan đến pháp luật, nhưng sau lại không chịu giải quyết: A nun, being spoken to by a nun, saying: “Do come, lady, and settle this elgal question, and having answered, ‘Very good,’ yet if she is not afterwards prevented, should neither settle it nor should make an effort to get it settled, there is an offence of expiation.

46) Cấm trao tay thí đồ ăn cho kẻ ngoại đạo: A nun should not give with her own hand solid food or soft food to a heretics. According to The Book Of The Discipline, translated into English by I.B. Horner in 1997, if a nun gives with her own hand solid food or soft food to a householder, a male or female wanderer, she commits an offence of expiation.

47) Cấm lấy y phục của người tại gia mặc vào: A nun should not wear clothes of lay people (her househole robe).

48) Cấm vị Ni chưa xả bỏ nơi cư trú mà đi khất thực: A nun, not having given up her dwelling, should set out on almstour, there is an offence of expiation.

49) Cấm vị Ni học kiến thức thế tục. Nếu học cách viết chữ thì không phạm tội: A nun should never learn worldly (secular, not connected with the goal) knowledge. There is no offence if she learns writings.

50) Cấm vị Ni dạy kiến thức thế tục: A nun should not teach worldly knowledge.

51) Cấm vào tịnh xá chư Tăng mà không xin phép: a nun should not enter a monastery without asking for permision.

52) Cấm nhiếc mắng mấy Ni cô khác: A nun should not revile or abuse other nuns. In doing so she commits the offence of expiation.

53) Cấm nóng nảy la lối trước đám đông: A nun, being quick tempered, should abuse a group, there is an offence of expiation.

54) Cấm ăn nữa khi đã ăn no hay có người khác mời ăn thêm: A nun, being invited or being satisfied, should eat or partake of solid food or soft food, there is an offence of expiation.

55) Cấm ghen ghét hằn học: A nun should be one who is grudging as to families, there is an offence of expiation.

56) Cấm họp nhau trong mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng: A nun should not spend the rains in a residence where there is no monk. In case of violation of the instruction and staying during the rainy season in a monastery without monk, she commits the offence of expiation (the Buddha has made the rules for the nuns to enter into rainy season retreat in a monastery whre there are also monks. Probably this has been done with the consideration of providing them guardianship).

57) Cấm đến cuối mùa mưa quên đọc lại với Giáo Hội chư Tăng những điều nghe thấy: After the rainy season retreat, if a nun does not invite the Order of Monks and Nuns in respect of three matters: that is what was seen or heard or suspected, she commits the offence of expiation.

58) Cấm đi đến chỗ hô hào cổ võ: A nun should not go for exhortation or for communion.

59) Cấm quên hỏi Giáo Hội cầu thầy thuyết pháp và đọc giới bổn: A nun should not forget her general duty of asking the Order of the monks the dates of the observance day and preaching Dharma day. Every half month a nun should desire two things from the Order of monks: the asking as to the date of the Observance day and the approaching for exhortation. For her who transgresses this, there is an offence of expiation.

60) Cấm khi bệnh không có Giáo Hội cho phép mà để người khác cắt hoặc bó cho mình: It is not proper for a nun to make a boil or scab that has formed on the lower part of her body to be operated by a man without the permision of the Order; she should not also get it washed or smeared, bound up or unbound by a man. Doing so, she commits the offence of expiation.

61) Cấm cho nhập đạo một cô có thai: A nun should not ordain a pregnant woman. In case of doing so, she commits the offence of expiation.

62) Cấm cho nhập đạo một cô còn có con nhỏ: A nun should not ordain a woman giving suck (it is forbidden for a nun to ordain a woman giving suck). In case of violation of the rule, she commits an offence of expiation.

63) Cấm cho nhập hàng Ni cô một người chưa tập sự hai năm: A nun should not ordain a probationer who has not trained for two years in the six rules. Even after reaching the age of twenty years, a married girl is not fit for ordination, if she is not trained for two years in six rules (see Thập Giới II B).

64) Cấm cho nhập đạo mà chẳng được Giáo Hội chư Tăng thị nhận: A nun should not ordain a married girl without obtaining the permision from the Order, even though the girl has completed twenty years of age and has trained for two years in the six rules. In case of doing so, she commits the offence of expiation.

65) Cấm cho nhập đạo một cô gái kết hôn chưa được 12 năm: A nun should not ordain a girl married for less than twelve years.

66) Cấm cho nhập đạo một cô gái, dù đã kết hôn trên mười hai năm, nhưng mà chưa tập sự được hai năm: A nun should not ordain a girl, even though she married over twelve years, but has not trained for two years in the six rules.

67) Cấm cho nhập đạo một cô dù đã kết hôn trên mười hai năm và đã tập sự trên hai năm, nhưng chẳng được Giáo Hội chư Tăng thị nhận: A nun should not ordain a girl married for more than twelve years and has been trained for over two years without obtaining the permision from the Order. In case of doing so, she commits the offence of expiation.

68) Cấm đã thâu nhận học trò mà không lo dạy dỗ trong hai năm tập sự: After ordaining a woman, a nun should keep her under supervision and should help her for two years in training in six rules. It is a general rule for a nun to give ordained woman instructions for two years. In disobeying this she commits the offence of expiation.

69) Cấm bắt người mình cho thọ giới phục dịch mình trong hai năm: Whatever nun for two years should not wait upon an ordained woman instructor, there is an offence of expiation.

70) Cấm khi đã cho một người thọ giới rồi để cho người đó đi xa, dù chỉ xa năm hoặc sáu do tuần (see Do Tuần): Whatever nun, having ordained the woman who lives with her, should neither withdraw her nor have her withdrawn even to a distance of five or six yojanas, there is an offence of expiation.

71) Cấm cho nhập hàng Ni cô một người chưa đúng hai mươi tuổi trọn: A nun should not ordain a maiden under twenty years of age. In case of violation of the rule, she commits an offence of expiation.

72) Cấm cho nhập hàng Ni cô một người chưa tập sự hai năm, dù cô nầy đã trên hai mươi tuổi: A nun should not ordain a probationer who has not trained for two years in the six rules. Even after reaching the age of twenty years, a married girl is not fit for ordination, if she is not trained for two years in six rules (see Thập Giới II B).

73) Cấm cho nhập đạo một cô dù đã trên hai mươi tuổi và đã tập sự trên hai năm, nhưng chẳng được Giáo Hội chư Tăng thị nhận: A nun should not ordain a married girl without obtaining the permision from the Order, even though the girl has completed twenty years of age and has trained for two years in the six rules. In case of doing so, she commits the offence of expiation.

74) Cấm một vị Ni chưa có mười hai năm tu hành mà cho người khác thọ giới: A nun should not ordain other nuns while she is less than twelve years of standing.

75) Vị Ni dù đã tu trên mười hai năm mà không được giáo hội cho phép cũng không được cho người khác thọ giới cụ túc: A nun who has completed twelve years of standing, but who is not agreed upon by the Order, should not ordain other nuns.

76) Cấm hứa nếu ai dễ dạy thì cho nhập đạo, kế không giữ lời: A nun should not first promise to ordain a trainable woman, then later breaks her promise.

77) Cấm hứa nếu ai cúng áo thì cho nhập đạo, kế không giữ lời: A nun should not promise another nun for ordination, in a gain of a robe and afterwards breaks her promise, her such doing is an offence of expiation. Whatever nun, having said to a probationer: “If you, lady, will give me a robe, then will I ordain you.” If afterwards, she should neither ordain her nor should she make an effort to get her ordained, there is an offence of expiation.A nun should not promise to ordain a woman who seems to be trainable, and afterwards breaks her promise.

78) Vị Ni nào trước hứa với người tập sự: “Nếu người chịu đợi ta hai năm sau ta sẽ cho người thọ cụ túc giới,” nhưng sau đó chẳng những không cho người thọ cụ túc, mà còn không cố gắng tìm cách cho người thọ cụ túc: Whatever nun, having said to a probationer: “If you, lad, will wait upon me for two years, then will I ordain you,” yet if she is not afterwards prevented, should neither ordain her nor should make an effort to get her ordained, there is an offence of expiation.

79) Vị Ni nào cho thọ cụ túc người tập sự có dan díu với đàn ông, và có quan hệ tới bạo động là phạm giới: Whatever nun shold ordain a probationer who keeps company with men, who keeps company with youths, who is violent, there is an offence of expiation.

80) Cấm nhận một kẻ tu tập vào hàng Ni cô thiệt thọ, nếu người nhà kẻ ấy chẳng thuận: A nun should not ordain a probationer without the consent of the parents and husband. If a nun ordain a probationer without such consent, she commits an offence of expiation.

81) Cấm cho thọ giới một Ni cô để lấy lòng vị Tăng cao hạ: Whatever nun should ordain a probationer by showing favoritism to monks placed on probation, there is an offence of expiation.

82) Cấm mới nhập giáo đoàn chưa được một năm mà thâu nhận người khác cho thọ giới cụ túc: A nun who joined the Order less than a year, should not ordain a probationer.

83) Cấm cho thọ cụ túc giới hai người trong một năm: A nun should not ordain two probationers in one year.

84) Cấm vị Ni cô mang dù hay giày dép: A nun should not use a sunshade (umbrella) and sandals.

85) Nếu không có bệnh, cấm ni cô không được đi kiệu hay đi xe: A nun who is not ill, should not go in a vehicle.

86) Nếu không có bệnh, cấm ni cô mặc áo choàng ngoài: A nun should not wear a petticoat if she is not ill.

87) Cấm dồi mài trang điểm thân mình: A nun should not apply any cosmetic powder, nor should she wear ornaments.

88) Cấm ni cô tắm với nước thơm: A nun should not bathe with scented ground sesamum.

89) Cấm ni cô xoa dầu hay bảo một ni cô khác xoa bóp: A nun should not cause herself to be rubbed with ointment, or should cause herself to be massaged by another nun.

90) Cấm ni cô xoa dầu hay bảo người tập sự xoa bóp: A nun should not cause herself to be rubbed with ointment, or should cause herself to be massaged by a probationer.

91) Cấm ni cô ngồi trước mặt một vị Tăng mà không xin phép trước: A nun should not sit down on a seat in front of a monk without asking for advanced permission.

92) Cấm ni cô vấn hỏi một vị Tăng mà không xin phép trước: A nun should not ask a question of a monk without asking for advanced permission.

93) Cấm vào làng mà chẳng mặc áo Ni cô: A nun should not enter the village without her vest (robe).

94) Vị ni cô nào không có bệnh mà xin bơ để dùng là phạm tội: Whatever nun who is not ill, having had ghee asked for, should partake of it, it should be confessed by that nun, saying: “I have fallen, ladies, into a blameworthy matter, unbecoming, which ought to be confessed; I confessed it.” There is an offence of expiation.

95) Vị ni cô nào không có bệnh mà xin dầu, mật, sữa, và bơ đặc để dùng là phạm tội: Whatever nun who is not ill, having had oil, honey, milk, curds asked for, should partake of it, it should be confessed by that nun, saying: “I have fallen, ladies, into a blameworthy matter, unbecoming, which ought to be confessed; I confessed it.” There is an offence of expiation.

96) Cấm cho rằng phải một việc sai trái:A nun should not tell a conscious lie (telling a conscious lie means the words, the utterance, the speech, the talk, the language, the intimation, the un-ariyan statement of one intent upon deceiving with words, saying: “I have not seen what I have seen, heard what I have not heard, sensed what I have not sensed, etc).

97) Cấm chê bai làm người rủn chí: A nun should not should not speak insulting speech to discourage people.

98) Cấm nói lưỡi hai chiều đâm thọc làm cho người ta giận nhau: A nun should not speak slandering speech to cause people to break their harmony.

99) Cấm để cho người chưa thọ đại giới thuyết pháp. Tuy nhiên, nếu cùng bậc thiện hữu tri thức tại gia nghiên cứu kinh điển thì không phạm giới Ba Dật Đề: A nun should not make one who is not ordained to speak dharma line by line. However, if a nun studies together with lay good advisors, there is no offence of Pacittiya.

100) Cấm ở quá hai đêm chung với người chưa thọ giới nhà sư: A nun should not lie down in a sleeping place with one who is not ordained for more than two nights.

101) Cấm khoe mình đắc đạo có phép thần thông với người chưa thọ đại giới: A nun should not speak of a condition of furthermen to one who is not ordained.

102) Cấm đào đất, cuốc đất, hay sai người đào cuốc: A nun should not dig the ground or have it dug.

103) Cấm đốn cây: A nun should not destroy vegetable growth.

104)

105) Cấm chê bai, khi dễ, nói ác, hay xúc phạm đến vị Sư Trị Sự trong Giáo Hội: A nun should not defame or look down or bad mouth in criticizing the headmaster of the Order.

106) Cấm dùng đồ của chùa mà bỏ ở ngoài, làm cho hư bể: A nun should not spread in the open air a chair or a mattress or a stool belonging to the Order, setting forth, but does not removed or have it removed, to cause it destroyed.

107) Cấm dùng đồ của chùa, khi đi không dẹp cất: A nun should not spread a sleeping place or having it spread in a dwelling belonging to the Order, setting forth, but should neither remove it nor have it removed

108) Cấm khi đi lữ hành, giành chỗ nằm của một người khác: A nun should not lie down in a sleeping place in a dwelling belonging to the Order, knowing that he is encroaching upon the space intended for a monk arrived first.

109) Cấm đuổi hay sai đuổi một vị Tỳ Kheo Ni không hạp ý mình ra khỏi phòng: Out of angry and displeased, a nun should not throw out another nun or cause her to be thrown out from a dwelling place belonging to the Order.

110) Nếu ở phần trên gác, khi giăng mùng lót ván, cấm để cây rớt trúng người: A nun who dwells in a lofty cell with an upper part, in a dwelling place belonging to the Order. She should not cause any boards or removable feet of her couch to fall down to hurt other people.

111) Khi lợp tịnh xá, cấm dùng đồ quá nhiều chất nặng khiến bị sập: A nun should not cover her dwelling place with heavy material that collapse to harm other people.

112) Cấm lấy nước dùng khi biết trong nước ấy có côn trùng: A nun should not sprinkle grass or clay, or should not have them sprinkled if he knows that the water contains life.

113) Cấm đi chung với một vị Tỳ Kheo dầu làng nầy hay làng kia, trừ khi ngặt nghèo (trường hợp ngặt nghèo ở đây phải được giáo hội đồng ý là đường xá nguy hiểm và ghê sợ đến nỗi người đi đường phải mang vũ khí): A nun should not have arranged together with a monk to go along the same road, even among villages, except at the right time (in this case, the right time must be agreed upon by the Order that the road is dangerous and frightening that one must go with a weapon)

114) Cấm hẹn nhau đi chung một thuyền với một vị Tỳ Kheo, trừ khi qua đò: A nun should not have arranged together with a monk to embark in a boat and to go either upstream or downstream, except for crossing over to the other bank on a ferry.

115) Cấm ăn đến hai buổi cơm một ngày, hai buổi hai ngày trong một nhà: A nun should not eat more than one meal at a public house, nor should he eat two meals in two days at the same house.

116) Cấm ăn nhiều buổi cơm, ở nhiều chỗ trong một ngày, trừ khi đau yếu: A nun should not eat more than one meal and residing at various locations in one day, except when she is ill.

117) Cấm ăn no rồi mà ăn lại nữa, nhưng khi còn đói có thể hỏi thêm: A nun should not eat solid food or soft food that is not left over when she feels full (satisfied); however, when she is still hungry, she can ask for more food.

118) Cấm lãnh đồ ăn nhiều quá mà không chia sớt cho vị khác (Khi vị sư đi hay được mời thỉnh đến nhà thí chủ và được cúng dường hai hay ba bát bột nhồi mật để mang về, vị Tăng ấy có thể nhận. Nếu muốn nhiều hơn thế là phạm tội Ba Dật Đề. Nếu nhận về tự viện mà không chia lại cho chư Tăng trong tự viện cũng bị phạm tội Ba Dật Đề): When receiving a lot of alms-food, a nun must share them with other nuns in the Order. If not, there is an offence of Pacittiya (If a nun, going up to a family, and was invited to take cakes or barley-gruel, two or three bowlfuls may be accepted by the nun. Should she accept more than that, there is an offence of Pacittiya. Should she accept two or three bowfuls, take these cakes back from there and would not share with other monks in the monastery, there is an offence of Pacittiya).

119) Cấm ép vị sư khác ăn no rồi mà phải ăn lại nữa: A nun should not ask another nun who has eaten, who is satisfied, to take solid or soft food that is not left over.

120) Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ tới ngọ hôm sau: A nun should not eat or partake solid or soft food at the wrong time (wrong time means afternoon has passed until sunrise).

121) Cấm để dành đồ ăn cách đêm đặng hôm sau khỏi đi khất thực: A nun should not eat or partake of solid food or soft food that was stored so that she doesn’t have to go begging for alms-food the next day

122) Cấm hỏi đồ ăn mỹ vị, trừ cơn đau phải tùy món cần dùng: A nun who is not ill should not ask for sumptuous foods (sumptuous foods include ghee, fresh butter, oil, honey, fish, meat, milk, curds, etc.).

123) Cấm dùng và để đồ ăn vào miệng, món chẳng phải của cúng dường: A nun should not convey to her mouth nutriment not given.

124) Cấm trao tay thí đồ ăn cho lõa thể hay nam nữ ngoại đạo: A nun should not give with her own hand solid food or soft food to a naked ascetic, or to a male wanderer or to a female wanderer.

125) Cấm oán ghét, kiếm cớ làm cho một vị sư khác bơ vơ nhịn đói: A nun should not find fault to dismiss another nun from going into a village for alms-food to cause that nun to starve.

126) Cấm đi vào nhà có đồ ăn mà ngồi xuống: A nun should not intrude and sit down in a house with food.

127) Cấm đi đến nhà cư sĩ trước bữa ăn nếu không được mời trước: Whatever nun, being invited and being provided with a meal, not having asked for permission if a nun be there, should call upon families before a meal or after a meal, except at a right time, there is an offence of expiation. In this case, a right time is the time of giving robes, the time of making robes:

128) Khi không có bệnh, cấm nhận đồ cần dùng trước hạn kỳ bốn tháng: When a nun is not ill, an invitation to accept a requisite for four months may be accepted, unless there be a renewed invitation, unless there be a permanent invitation. If one should accept for longer than that, there is an offence of expiation:

129) Cấm xem diễn binh tập trận: A nun should not go to see an army fighting.

130) Nếu vì lý do gì đó mà phải đến viếng trại binh, cấm ở chung với quân binh hai ngày: If there is some reason for a nun to go to visit the army, that nun should not stay with the army for two nights.

131) Nếu phải viếng trại binh, cấm đi xem sự tập tành ngựa voi, quân binh đấu võ: If a nun, staying with the army for less than two nights, she should not go to see a sham-fight or to the troops in array or to the massing of the army or to see a review of the army.

132) Cấm uống rượu men, các thứ rượu, thuốc hút, á phiện, trầu cau: A nun should not drink fermented liquor and spirits, nor should she smoke opium, nor should she chew betel.

133) Cấm lấy tay thọc lét để chọc cười những vị Ni cô khác: A nun should not tickle with the fingers to make other nuns laugh.

134) Cấm chơi thể thao hay giởn cợt một cách quá tự do dưới nước: A nun should not playing in the water (sporting in the water).

135) Cấm bất tuân và khinh dễ lời quở trách cản ngăn: A nun should not disrespect any blame or warning from the elder nuns.

136) Cấm dọa nạt làm cho một vị Tỳ Kheo khác kinh sợ: A nun should not frighten another nun.

137) Cấm vô cớ chụm lửa chỗ trống, trừ khi đau yếu, lạnh lẽo hay trong đêm tối: If she is not ill, a nun should not warm herself, kindle or cause a fire to be kindled.

138) Cấm tắm tới hai lần trong nửa tháng, trừ khi đau yếu, dơ hay nực vào trời hè: A monk should not bathe at intervals of less than half a month, except at a right time, i.e., the time of illness, the body is dirty, or too hot during the summer time.

139) Cấm nhận, mặc, hay dùng chăn áo, màu vải trắng, mà phải nhuộm lại cho xấu trước khi dùng: A nun should not obtain or wear a robe (white) that has no disfigurement of black, dark green or muddy colors. If a nun makes use of a new robe without taking any one mode of disfigurement (of the three modes of disfigurements), there is an offence of expiation.

140) Cấm lấy lén lại đồ, áo đã cho người ta rồi: A nun should not get back things that she already offered to another nun. If a nun assigns a robe to a monk or to a nun or to a female probationer or to a male novice, then make use of it or take it back to give to another nun, there is an offence of expiation.

141) Cấm giễu cợt mà giấu, hoặc xúi người dấu đồ của người khác (như bát, áo, vải, vân vân): A nun should not hide or cause to hide another nun’s bowl or robe or cloth, even in fun.

142) Cấm cố ý giết chết mạng thú vật: A nun should not intentionally deprive a living thing of life.

143) Cấm uống nước mà mình biết là có trùng: A nun should not knowingly make use of water that contains living things.

144) Cấm khiêu gợi sự rầy rà sau khi đã êm thuận: A nun should not knowingly open up for a further formal act a legal question already settled according to rule.

145) Cấm đi chung với gian nhân, dầu từ làng nầy hay làng kia cũng vậy: A nun should not have arranged together with a caravan set on theft, should not knowingly go along the same high road, even among villages.

146) Cấm nói mình đã hiểu giáo pháp của Đấng Thiện Thệ làm trở ngại cho những ai tu theo. Ni chúng sẽ hỏi vị nầy ba lần. Nếu vị ấy vẫn không chịu sám hối, tức là phạm tội Ba Dật Đề: Whatever nun should speak thus: “In so far as I understand dhamma taught by the Blessed One, it is that in following those things called stumbling-blocks by the Blessed One, there is no stumbling-block at all;” that nun should be spoken to by the nuns thus: “Do not, venerable one, speak thus, do not misrepresent the Blessed One, misrepresentation of the Blesed One is not all seemly, and the Blessed One certainly would not speak thus; in many a figure, your reverence, are things that are stumbling-blocks called stumbling-blocks by the Blessed One, and in following these there is a veritable stumbling-block.” And if that monk, when he has been spoken to thus by the monks, should persist as before, that nun should be admonished by the nuns up to the third time for giving up that course. If being admonished up to the third time, she should give it up, that is good. But if she should not give it up, there is an offence of expiation.

147) Cấm ăn uống và giao thiệp, hay nói chuyện với vị Ni cô nói sái quấy: A nun should not knowingly eat together with or be in communion with or lie down in a sleeping place with a nun who speaks uncorrectly about the Buddha-Dharma and misinterprets the Buddha.

148) Cấm giữ tại chùa và để hầu mình, kẻ Sa Di Ni nói sái quấy: A nun should not knowingly allow the female novice who speaks uncorrectly about the Buddha-Dharma and misinterprets the Buddha, should not encourage that novice, should not support, should not eat with that novice, nor should she lie down in a sleeping place with that novice .

149) Cấm chối tội nói rằng không biết để đi hỏi lại: A nun, being spoken to by nuns regarding a rule, should speak thus: “Your reverences, I will not train myself in this rule of training until I have inquired about it of another experienced nun who is expert in discipline.” There is an offence of Pacittiya. She should say: “Nuns, it should be learnt, it should be inquired into, it should be investigated by a nun who is training.”

150) Cấm nói phá rằng đọc giới bổn là phiền hà vô ích: When the Patimokkha is being recited, a nun should not disparaging the rule of training by sayng thus: “On what account are the lesser and minor rules of training recited? They only tend to remorse, to vexation, to perplexity.”

151) Cấm chối tội nói rằng tại mình không thuộc giới bổn: A nun should not avoid being blamed by saying that she does not understand the Patimokkha (Whatever monk, while the Patimokkha is being recited every half-month, should speak thus: “Only now I do understand that this rule is, as is said, handed down in a clause, contained in a clause, and comes up for recitation every half-month; if other nuns should know concerning this nun has sat down two or three times before, not to say oftener, while Patimokkha was being recited, there is not only no freedom for that nun on account of her ignorance, but she ought to be dealt with according to the rule for the offence into which she has fallen there, and further confusion should be put on her, saying: ‘Your reverence, this is bad for you, this is badly gotten by you, that you, while the Patimokkha is being recited, do not attend applying yourself properly.”

152) Whatever nun should intentionally arouse remorse in a nun thinking, “There will be no comfort for her even for a moment,” if having done it for just this object, not for another, there is an offence of expiation.

153) Cấm học đi học lại, chuyện cãi lẫy gây gổ, sau khi đã êm thuận: A nun should not stand overhearing other nuns when they are quarrelling, disputing.

154) Cấm làm cản trở không cho thi hành điều mà giáo hội đã quyết nghị: A nun should not first consent for ligitimate acts, and afterwards engage in criticism.

155) Cấm phá khuấy làm gián đoạn buổi hội nghị, bằng cách đứng dậy hay bước ra ngoài: A nun should not break or interrupt the meeting, not giving the consent by rising up or departing from her seat when the Order is engaged in decisive talk.

156) Cấm nói vị Ni khác được áo của Giáo Hội vì sự quen biết: Whatever nun, having given away a robe by means of a complete Order, should afterwards engage in criticism, saying: “The nuns are appropriating a benefit belonging to the Order according to acquaintanceship,” there is an offence of expiation.

157) Whatever nun should knowingly appropriate to an individual an apportioned benefit belonging to the Order, there is an offence of expiation.

158) Cấm vào cung vua thình lình, không chờ đợi được nghinh tiếp: A nun should not suddenly enter the threshold of the king palace without waiting to be welcome.

159) Cấm lượm, hay sai lượm của quấy vật bỏ rơi, trừ khi nào biết rõ chủ nhân mà muốn cất giùm: A nun should not pick up or cause another to pick up treasure or what is considered to be treasure, except when she knows the owner and picks to set aside for the owner to take it.

160) Cấm vào làng sái giờ, trừ ra có việc của Giáo Hội: A nun should not enter a village at the wrong time, unless the Order instructs her to go for some kind of urgent thing to be done.

161) Cấm dùng ống đựng kim bằng xương, sừng, ngà: A nun should not have a needle-case made of bone or ivory or horn

162) Cấm ngồi ghế cao (cao hơn tám lóng tay), nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp: A nun should not sit on a couch or chair with the legs higher than eight finger-breadths

163) Cấm dồn ghế, nệm, gối bằng gòn tốt: A nun should not have a couch or a chair made covered with good cotton.

164) Cấm trải ngọa cụ choán chỗ rộng quá: A nun should not sit or lie on a large piece of sleeping bag (oversize). When a piece of cloth to sit upon is being made for a nun, it must be made to a proper measure. This is the proper measure: in length two spans, in breadth one and a half spans. In exceeding this measure, there is an offence of expiation.

165) Cấm dùng vải giẻ nhiều quá để bó chỗ đau (bốn gang chiều dài và hai gang chiều rộng): A nun should not use oversize itch-cloth (four spans in length and two spans in breadth).

166) Cấm mặc áo rộng dài như áo của Phật (áo của Phật chiều dài chín gang, chiều rộng sáu gang): A nun should not have a robe made the measure of the Buddha’s robe, or more (the measures for the Buddha’s robe are nine spans in length and six spans in breadth).

V. Tứ Giới Hối Quá – Patidesaniya (skt)

Theo Luật Tạng, chữ Patidesaniya là gốc chữ Bắc Phạn, có nghĩa là phát lồ xưng ra sự vi phạm luật xuất gia trước Giáo Hội. Bốn giới Ba La Đề Xá Ni là những vi phạm mà hình phạt phải được Giáo Hội quyết định—According to the Vinaya Pitaka, the word Patidesaniya is a Sanskrit word means a confession of an offence or some sort of transgression of monastic rules which ought to be confessed before the Order, and the punishments for these offences are decided by the Order.

1) Cấm chẳng đau mà ăn nhờ đồ của Tỳ Kheo Ni xa lạ: A monk should not eat or partake of solid food or soft food, having accepted it with his own hand from the hand of a nun who is not a relation.

2) Cấm chẳng từ chối Tỳ Kheo Ni nói với thí chủ đãi cơm cho mình (khi thí chủ mời chư Tăng đến nhà thiết đãi Trai Tăng. Nếu có một vị Tỳ Kheo Ni đến bên bảo thí chủ đem đến cho chư Tăng món cà ri, món cơm, vân vân. Vị Tăng phải quở trách ngay vị Tỳ Kheo Ni ấy “Ni sư nên đứng qua một bên khi chư Tăng đang thọ dụng.” Nếu không là phạm phải tội Ba La Đề Xá Ni): When a householder invites a monk to come to the family. If a nun comes to be standing as though giving directions, saying: “Here give curry, give cooked rice here,” that nun should be rebuked by the monk, saying: “Stand aside, sister, while the monks eat.” If not, the monk violates the Patidesaniya.

3) Cấm xin mãi một nhà, làm cho người ta nghèo túng: A monk should not keep begging for foods at the same house to cause them to be poor because of their continuous offerings.

4) Cấm sư ẩn cư ở chỗ nguy hiểm, để có sự nguy hại cho thí chủ khi đem cơm tới cho mình: A monk should not reside in those jungle lodgings that are dangerous and frightening for donators who travel to offer foods and drinks.

VI. Giới Chúng Học Ni – Sikkka-karaniya (skt)—Sekhiya (p)

Tiếng Phạn gọi là Thức Xoa Ca La Ni—Theo Luật Tạng, Thức Xoa Ca La Ni là bảy lăm giới cần học trong sinh hoạt hằng ngày—According to the Vinaya Pitaka, Sikkka-karaniya includes seventy-five rules of conduct which are connected with daily activities.

1) Cái chăn phải vận từ nịch lưng tới nửa ống chân, chứ không được xăn, để phủ trùm rún và hai đầu gối. Nếu ai để chăn xăng lên hay lòng thòng ra ngoài, dù phía trước hay phía sau, đều bị phạm tội Thức Xoa Ca La Ni: A nun should wear the inner robe all round for covering the circle of the navel and the circles of the knees. Whoever out of disrespect dresses with an inner robe hanging down in front or behind, there is an offence of wrong-doing.

2) Bộ áo ba cái phải mặc cho có thứ lớp: A nun should wear the upper robe even al round (whoever out of disrespect puts on an upper robe hanging down in front or behind, there is an offence of wrong-doing).

3) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà không mặc áo che mình: A nun should not, out of disrespect, having uncovered the body, go among the houses.

4) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà không mặc áo che mình: A nun should not, out of disrespect, sit down among the house without proper clothes.

5) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà múa tay: A nun should not go fidgeting amidst the houses (making play with hand or foot).

6) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà múa tay: A nun should not sit fidgeting in inhabited areas (making play with hand or foot in the houses).

7) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà mắt trông bên nầy, bên kia. Mắt vị ấy chỉ nên nhìn xuống và xa về phía trước chỉ khoảng bề ngang một luống cày: A nun should not go among the houses with eyes glanced around. He should go amidst the houses with eyes cast down looking only a plough’s distance ahead.

8) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà mắt trông bên này, bên kia. Mắt vị ấy chỉ nên nhìn xuống và xa về phía trước khoảng bề ngang một luống cày: A nun should not sit down in the houses with eyes glanced around. He should sit down amidst the houses with eyes cast down looking only a plough’s distance ahead.

9) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà lật áo lên tới vai: A nun should not go among the houses with robes lifted up to the shoulders, either on one side or on both (if out of disrespect having lifted up the robe on one side or on both, there is an offence of wrong-doing).

10) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà lật áo lên tới vai: A nun should not sit down amidst the houses with robes lifted up to the shoulders, either on one side or on both.

11) Chẳng nên cười cợt khi đi vào nhà cư sĩ: A nun should not go into the houses with loud laughter.

12) Chẳng nên cười cợt khi ngồi trong nhà cư sĩ: A nun should not sit down in the houses with loud laughter.

13) Cấm không được đi vào và ngồi trong nhà cư sĩ mà gây tiếng động ồn ào: With a loud noise will I go sit down amidst the houses, is a training to be observed. One should go sit down amidst the houses with little noise.

14) Cấm ngồi trong nhà cư sĩ mà gây tiếng động ồn ào: Whoever out of disrespect, making a loud noise, a great noise, goes sits down amidst the houses, there is an offence of wrong-doing.

15) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà lay chuyển thân mình: A nun should not go amidst the houses swaying the body. He should hold the body straight.

16) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà lay chuyển thân mình: A nun should not sit down amidst the houses sway the body. He should hold the body straight.

17) Chẳng nên đi vào và ngồi trong nhà cư sĩ mà quơ múa tay, mà ngược lại tay phải thẳng: Not swaying the arms will I go sit down amidst the houses, is a training to be observed. One should not go sit down amidst the houses swaying the arms. One should go sit down holding the arms straight.

18) Chẳng nên vì bất kính mà đi vào và ngồi trong nhà cư sĩ mà quơ múa tay: Whoever out of disrespect, the arms swaying, goes sits down amidst the houses bending the arms, there is an offence of wrong-doing.

19) Chẳng nên đi vào và ngồi trong nhà cư sĩ mà đầu cổ lắc lia: Not swaying the head will I go sit down amidst the houses, is a training to be observed. One should not go sit down amidst the houses swaying the head. One should go sit down holding the head straight.

20) Chẳng nên đi vào và ngồi trong nhà cư sĩ mà ưởn cổ hay gục đầu: Whoever out of disrespect, the head swaying , goes sits down amidst the houses bending the head, there is an offence of wrong-doing.

21) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà chắp tay sau lưng hay chống nạnh: A nun should not enter any lay people’s houses with the arms placed on the hips, or with the hands on both sides and the elbows turned outwards (akimbo).

22) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà chắp tay sau lưng hay chống nạnh: A nun should not sit down in lay people’s houses with the arms akimbo (arms place on the hips, or hands on both sides and elbows turned outwards).

23) Cấm ngồi trong nhà cư sĩ mà lè lưỡi hay chống tay lên hàm: One should not go sit down muffled up amidst the houses.

24) Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, vừa ngồi vừa mặc áo: Whoever out of disrespect goes sits down amidst the houses, having dressed himself, including his head, in the upper robe, there is an offence of wrong-doing.

25) Chẳng nên ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ: A nun should not crouch down on the heels (sit arms akimbo) in the lay people’s houses.

26) Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ mà quần áo lòng thòng, thân người uể oải: One should not sit down amidst the houses lolling. Whoever out of disrespect sits down amidst the houses lolling, there is an offence of wrong-doing.

27) Phải để ý khi lãnh cơm: A nun should accept almsfood attentively. Whoever out of disrespect accepts almsfood inattentively, as though desirous of throwing it away, there is an offence of wrong-doing.

28) Phải để ý khi tín chủ bố thí thực vật vào bát, chứ không được ngó qua ngó lại: One should accept almsfood thinking of the bowl. Whoever out of disrespect accepts almsfood, looking about here and there, there is an offence of wrong-doing.

29) Phải lãnh cà ri vừa phải, chứ không được nhận quá nhiều: Almsfood with equal curry should be accepted. Whoever out of disrespect accepts too much curry, there is an offence of wrong-doing.

30) Chẳng nên xới cơm lên che khuất đồ ăn đặng lãnh thêm nữa: A nun should not hide (cover up) sauce and curries with rice out of dsire to get more. One should accept almsfood at an even level. Whoever out of disrespect accepts heaped-up almsfood, there is an offence of wrong-doing.

31) Lãnh cơm và đồ ăn đủ rồi, phủ cái bát lại, vừa ăn vừa quán tưởng. Những ai bất kính, ăn đồ khất thực mà không quán tưởng là phạm tội: After accepting enough alms-food, a monk should cover the bowl; then she should sit straight up, eat and contemplate at the same time. Whoever out of disrespect eats almsfood inattentively, there is an ofence of wrong-doing.

32) Lúc ăn nên luôn quán tưởng về bát cơm mà mình thọ dụng, chứ không được ngó quanh ngó quất: One should eat almsfood thinking of the bowl. Whoever out of disrespect eats almsfood looking about here and there, there is an offence of wrong-doing.

33) Cấm lựa thức ăn khi ăn: One should eat almsfoods on continuous alms-tour. Whoever out of disrespect eats almsfood, having chosen here and there, there is an offence of wrong-doing.

34) Khi thọ thực, phải ăn vừa phải cà ri chứ không tùy tiện ăn một cách thái quá: Almsfood with equal curry should be eaten. Whoever out of disrespect eats too much curry, there is an offence of wrong-doing.

35) Món nào xúc trước thì ăn trước: A nun should eat the alms-food working down from the top without making exceptions (choosing or selecting foods). One should eat almsfood not having chosen from the top. Whoever out of disrespect eats almsfood having chosen from the top, there is an offence of wrong-doing.

36) Không nên che khuất cà ri để mong được lãnh thêm: One should not cover up the curry or the condiment with conjey, desiring something more. Whoever out of disrespect covers up the curry or the condiment with conjey, desiring something more, there is an offence of wrong-doing.

37) Chẳng nên hỏi canh ngon, hoặc món lạ, trừ khi đau yếu phải tùy món cần dùng: A nun should not ask for sauce and/or rice for his own appetizing unless he is sick.

38) Chẳng nên thấy vị khác lãnh đồ ăn mà sanh lòng thèm muốn. Chẳng nên nhìn sang bát của người khác có ý thèm thuồng, nếu không là phạm tội: A nun should not look enviously at another’s bowl. One should not look at others’ bowls captious-mindedly. Whoever out of disrespect looks at others’ bowls captious-mindedly, there is an offence of wrong-doing.

39) Chẳng nên ăn miếng lớn: When eating alms-food, a nun should not make up too large a mouthful. Whoever out of disrespect makes up too large a mouthful, there is an offence of wrong-doing.

40) Nên làm miếng tròn mà ăn cho vừa miệng, chứ không nên đưa miếng dài vào trám cả miệng: One should make up a piece of food into a round. Whoever out of disrespect makes up a long piece of food, there is an offence of wrong-doing.

41) Chẳng nên há miệng lớn, mà đút đồ ăn (chẳng nên há miệng trước khi miếng đồ ăn được đưa đến miệng): A nun should not open the mouth till the mouthful is brought to it. Whoever out of disrespect opens the mouth when the mouthful is not brought close, there is an offence of wrong-doing.

42) Cấm cho nguyên bàn tay với thức ăn vào miệng khi đang ăn: One should not put the whole hand into the mouth while eating. Whoever out of disrespect puts the whole hand into the mouth while eating, there is an offence of wrong-doing.

43) Chẳng nên nói chuyện, khi ngậm một miệng đồ ăn: A nun should not talk with the mouth full (talk with a mouthful in the mouth). Whoever out of disrespect talks with a mouthful in the mouth, there is an offence of wrong-doing.

44) Chẳng nên lấy cơm vò viên, mà thảy vào miệng: When eating alms-food, a monk should not make up a round mouthful (eat tossing up balls of food). Whoever out of disrespect eats tossing up bals of food, there is an offence of wrong-doing.

45) Chẳng nên ăn trám vàm đến nỗi rớt ra: A nun should not eat scattering rice or lumps of boiled rice about. Whoever out of disrespect eats breaking up the mouthfuls, there is an offence of wrong-doing.

46) Chẳng nên đưa đồ ăn má bên này, qua má bên kia như khỉ: A nun should not eat stuffing out the cheeks like a monkey (stuffed the cheek on one side or on both). Whoever out of disrespect eats, having stuffed cheek on one side or on both, there is an offence of wrong-doing.

47) Chẳng nên quơ tay trong khi ăn: A nun should not eat shaking the hand about. Whoever out of disrespect eats shaking the hands about, there is an offence of wrong-doing.

48) Chẳng nên ăn cơm mà làm rơi rớt: One should not eat scattering lumps of boiled rice. Whoever out of disrespect eats scattering lumps of boiled rice, there is an offence of wrong-doing.

49) Chẳng nên lè lưỡi ra, hay lấy lưỡi liếm: A nun should not eat put out the tongue, or eat licking or wiping, either the hand or the bowl.

50) Chẳng nên nút đồ ăn trong khi ăn hay nút mội chùn chụt: A nun should not suck the alms-food loudly, or smack the lips loudly.

51) Chẳng nên nhai lớn tiếng hay phát ra tiếng gió: A nun should not eat making loud sound or noise, or making a hissing sound.

52) Chẳng nên liếm tay khi đang ăn: One should not eat licking the fingers.

53) Chẳng nên liếm chén khi ăn: One should not eat licking the bowl.

54) Chẳng nên liếm môi khi đang ăn: One should not eat licking the lips.

55) Chẳng nên cầm bình uống nước mà chẳng rữa tay: A nun should not accept a drinking-water pot or cup with the hands soiled with food.

56) Chẳng nên tạt nước rữa bát với cơm cặn lợn cợn ra sân của thí chủ: A nun should not throw out amidst the houses, rinsings of the bowl with lumps of boiled rice (bowl washing water which has rice grains in it).

57) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dù: A nun should not teach Dharma to someone with an umbrella or a sunshade in his hand who is not sick.

58) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, không đau bệnh mà cầm gậy: A nun should not teach Dharma to someone with a stick (staff) in his hand and who is not sick.

59) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dao: A nun should not teach Dharma to someone with a knife in his hand.

60) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm giáo: A nun should not teach Dharma to someone with a spear (lance) in his hand.

61) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi guốc: A nun should not teach Dharma to someone mounted on clogs (wooden shoes).

62) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi dép: A nun should not teach Dharma to someone wearing sandals who is not sick.

63) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cỡi ngựa, đi kiệu: A nun should not teach the law to someone in a vehicle who is not sick. Whoever out of disrespect teaches Dhamma to someone in a vehicle and who is not ill, there is an offence of wrong-doing.

64) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, nằm trên giường hay nằm dưới đất trong khi mình ngồi: A nun should not sit to teach Dharma to someone lying on a bed and who is not ill, or even lying on the ground.

65) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi rong khi mình đứng: A nun should not teach Dharma, standing, to someone who is sitting down, and who is not sick

a) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi trên ghế trong khi mình ngồi dưới đất (ngồi chỗ tốt trong khi mình ngồi chỗ xấu): A nun should not sit down on the ground to teach Dharma to someone sitting on a seat and who is not ill.

b) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi chỗ cao trong khi mình ngồi chỗ thấp: A nun should not teach Dharma, having sat down on a low seat, to someone sitting on a high seat and who is not ill.

66) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ che đầu: A nun should not teach the law to someone with head covered (with a turban on his head) and who is not sick.

67) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ dùng khăng quấn đầu: A nun should not teach Dharma to someone wearing a head wrapping (whose head muffled up) and who is not sick.

68) Khi mình ngồi dưới đất, chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ không có bệnh mà vô lễ ngồi trên ghế: Having sat down on the ground, dhamma should not be taught to someone siting on a seat and who is not ill.

69) Khi mình ngồi ghế thấp, chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ không có bệnh mà vô lễ ngồi trên ghế cao: Dhamma should not be taught, having sat down on a low seat, to someone sitting on a high seat and who is not ill.

70) Khi mình đứng, chẳng nên vô tình thuyết pháp cho kẻ không có bệnh mà vô lễ ngồi: A nun should not teach Dhamma, standing, to someone who is sitting down and who is not ill.

71) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trước mà mình đi sau: A nun should not teach Dharma, going or walking behind, to someone going or walking in front and who is not ill.

72) Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đứng ở giữa đường mà mình đứng ở bên đường: A nun should not teach Dharma, standing beside (at the side of) a path, to someone standing on a path (in the middle of the path).

73) Khi đứng chẳng nên tự tiện khạc nhổ: One must not ease or spit oneself standing if not ill. Whoever out of disrespect eases or spits himself standing if not ill, there is an offence of wrong-doing.

74) Nếu chẳng phải bệnh, chẳng nên tự tiện khạc nhổ vào cây xanh: A nun should not ease himself or spit, if not ill, on green corn.

75) Nếu chẳng phải bệnh, chẳng nên tự tiện khạc nhổ xuống nước: A nun should not ease himself or spit in the water.

Leave a Comment